Đặc điểm chung và các kỹ thuật áp dụng khi trồng và chăm sóc cây cảnh (P2)

  • Tiến hành rạch và lột vỏ của phần định tạo hốc, bọng bằng dao.
  • Dùng giấy nháp hoặc lưỡi dao phá bỏ lớp tượng tầng của phần đã lột vỏ đi bằng cách đánh chùi hoặc cạo sạch lớp tượng tầng cho đến phần gỗ của cây. Không nên cạo hoặc đánh giấy nháp quá sâu vào trong lớp vỏ nhiều cây dễ bị chết.
  • Sau 2-3 tháng dùng đục hình máng đục dần bỏ phần gỗ phía trong của cây. Công việc này chỉ tiến hành sau thời gian lột vỏ đã lành và khi đục bỏ lớp gỗ phía trong phải làm dần dần, ít một mỗi tháng một ít không được đục sâu ngày vào sâu trong lõi gỗ để tránh cây bị héo do không được cấp nước từ bộ rễ hoặc bị chết.

Tương tự như kỹ thuật này, trong việc trồng cây Bonsai có kỹ thuật lột vỏ dọc theo thân cây để lộ gỗ ra gọi là Shari. Nói chung đây là kỹ thuật tiến hành đòi hỏi có sự cẩn thận, đồng thời còn mang tính chất điêu khắc trên cây cảnh vì vậy cần phải xem xét đến cả loại cây cảnh có thích ứng được với kỹ thuật này hay không cũng như thời kỳ và tuổi cây, độ lớn của thân, cành đó.

  1. Sử dụng chế độ nước để tạo dáng vỏ cổ thụ cho cây

Hạn chế việc tưới nước cho cây cảnh trong một thời gian dài thích hợp sẽ kích thích để cho cây hình thành một cấu trúc thích ứng với sự khô hạn là cơ sở của kỹ thuật tạo dáng vỏ cây cổ thụ cho cây cảnh. Vỏ cây, cũng như các phần khác của cây, trong điều kiện cây không được cung cấp đủ nước thì tầng sinh bì sẽ hoạt động mạnh tạo ra lớp biểu bì vỏ bên ngoài của cây càng nhiều để thích ứng với điều kiện khô hạn, giảm sự thất thoát nước cho cây và do đó vỏ cây sẽ sù sì, nứt nẻ và vỏ có gờ, các tế bào lớp ngoài của vỏ sẽ được tẩm lớp chất giống như sáp màu trắng gợi về già cỗi và cổ thụ cho cây cảnh.

Tuy nhiên việc áp dụng kỹ thuật này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ cây và làm tốc độ sinh trưởng của cây bị chậm lại do vậy chỉ áp dụng nhiều ở những cây đã tương đối hoàn chỉnh hoặc đã chỉnh về kiểu dáng hay thế đã tạo ra.

  1. Kỹ thuật nhân giống cây cảnh
  2. Khái niệm chung

Phần lớn các cây cảnh được trồng là những cây lâu năm, thân gỗ hoặc thân bụi, một số ít những cây thuộc lớp lá mầm có thân thỏa song chúng đều có khả năng nhân giống bằng con đường vô tính tức là sử dụng một bộ phận của thân, cành, rễ hoặc lá có thể tạo ra một cây con hoàn chỉnh. Tuy nhiên vì lý do khác những người trồng cũng sử dụng hạt của cây để gieo ươm ra cây con và cách nhân giống này được gọi là nhân giống bằng con đường hữu tính.

Về các cây con nhân ra còn nhỏ yếu dễ mẫn cảm với những điều kiện bất thuận, dù được nhân bằng con đường vô tính hay hữu tính, trong kỹ thuật nhân giống cây luôn đòi hỏi phải có sự chăm sóc đặc biệt và được tiến hành trong một khu vực riêng gọi là nơi ươm, vườn ươm cây con.

Nơi ươm, khu ươm hoặc vườn ươm đòi hỏi phải được bố trí ở nơi có đất tốt, giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới của đất trung bình như các đất phù sa, đất thịt pha cát… đảm bảo tiêu nước, thoát nước tốt. Ngoài ra để khống chế những điều kiện thời tiết bất thuận trong quá trình ươm cây giống, khu vực ươm cây con phải có những giàn che mưa, nắng hoặc gió hại cho thích hợp với từng phương pháp nhân giống tiến hành.

  1. Các phương pháp nhân giống cây cảnh
  • Gieo hạt: Là phương pháp dùng hạt của cây mẹ để gieo ươm thành các cây con. Việc thu hạt từ cây mẹ cần thu ở những quả mẩy, tốt không bị dị hình và chin đủ. Hạt lấy ra từ quả rửa sạch nếu hạt có bao bọc lớp thịt quả hoặc lớp khớp xung quanh vỏ hạt sau đó hong khô trong bóng râm không có ánh sang trực xạ.

Trước khi gieo hạt nên được ngâm ủ và sử lý nấm bệnh ngoài vỏ hạt, thời gian ngâm ủ tùy thuộc vào giống, loại cây, thường thì ngâm trong nước 3 sôi 2 lạnh trong thời gian từ 6-12 giờ thì vớt ra đem ủ một thời gian mới gieo. Việc sử lý nấm bệnh cho hạt thường tiến hành trước khi ngâm và ủ hạt. Đất gieo phải được làm kỹ, sạch cỏ và bón lót bằng phân chuồng hoài mục, lân và kali tùy theo mức độ dinh dưỡng đã có trong đất gieo, hạt gieo sâu 0,5-1,0cm, lấp đất và phủ rơm rác mục lên mặt để tưới giữ giữ ẩm tránh đóng váng trên mặt.

Thường xuyên giữ ẩm cho đất không để quá khô cho đến khi các mầm cây đã nhú lên mặt đất thì tưới thưa hơn và có thể dỡ bớt lớp rơm mục trên bề mặt để cây mọc được dễ dàng. Khi cây đã cứng cáp tiến hành tưới thúc bằng nước pha phân bón đạm theo tỷ lệ 1/20-1/30 hàng tuần 1 lần hoặc 2 tuần 1 lần cho cây lớn nhanh và sinh trưởng tốt nhanh đạt tiêu chuẩn đem đi trồng.

  • Chiết cành: Là phương pháp nhân giống vô tính được áp dụng khá phổ biến trong nghề trồng cây cảnh. Về nguyên tắc thì các cây thân gỗ, thân bụi của lớp thực vật hai lá mầm đều có thể nhân giống bằng phương pháp này, tuy nhiên do khả năng ra rễ của cành khi chiết rất khác nhau nên mức độ áp dụng cũng khác nhau. Khả năng ra rễ của cành hay bộ phận được chiết ấy được gọi là khả năng tự tái sinh để tạo ra một số cơ thể mới khi có những tác động của bên ngoài dựa vào quá trình chuyển hóa, tính chuyển hóa tế bào ở bộ phận chiết trở thành những tế bào có tính chuyển hóa đảm nhận chức năng khác. Khả năng tái sinh này phụ thuộc vào vị trí của cành trên tán cây mẹ, tuổi của cành và độ sung sức dự trữ dinh dưỡng cho quá trình chuyển hóa và cuối cùng là phụ thuộc vào mùa vụ tiến hành chiết.

Các bước và các thao tác kỹ thuật chiết cành tiến hành như sau:

  • Mùa vụ chiết: thường tiến hành chiết vào vụ xuân vào tháng 3-4 hoặc vụ thu vào tháng 8-9 hàng năm khi mà điều kiện thời tiết thuận lợi cho quá trình ra rễ. Ở những nơi có gió tây hoặc gió nóng, mùa mưa đến muộn thì có thể chậm hơn và thường tiến hành vào đầu mùa mưa hoặc gần cuối mùa mưa.
  • Chọn cành để chiết: Độ lớn của cành chiết tùy thuộc vào yêu cầu của người chiết có thể to nhỏ khác nhau song không nên chiết cành quá to hoặc quá nhỏ vì như vậy một số yêu cầu kỹ thuật khi chiết cành cũng như bảo vệ cây mẹ rất khó đảm bảo. Thường thì người ta chiết các cành có đường kính từ 0,8-3,0cm. Chọn các cành còn sung sức, không sâu bệnh có bộ lá xanh tốt ở lưng chừng hoặc phần dưới của tán cây.
  • Khoanh vỏ cành chiết: Tiến hành khoanh và lột vỏ một đầu theo chu vi của cành với độ dài khoanh vỏ bằng 1,5-2 lần trong đường kính của cành chiết ở vị trí thích hợp đã xác định để tạo tán, thế của cây con sau này. Sau khi đã khoanh lột vỏ của cành tiến hành phá bỏ lớp mô phân sinh tượng tầng xung quanh gỗ của cành kỹ càng phân sinh tượng tầng xung quanh gỗ của cành kỹ càng bằng lưỡi dao hoặc có thể để phá bỏ lớp mô phân sinh này (hình 11).

Để kích thích khả năng ra rễ có thể dùng 1 số chế phẩm có sẵn kích thích sự ra rễ, hoặc tự phá các chất kích thích ra rễ, cho cành bằng cách bôi  lớp ỡ phía trên của vết cắt một khoảng 1 – 1,5cm trước khi bó bầu.

Cách pha các chất kích thích ra rễ sử dụng khi chiết cành: ở đây cảnh thường khi chiết cành với cách thức bôi quét lên lớp vỏ của cành chiết người ta thường sử dụng các nồng độ cao và bôi 2 lần trên lớp vỏ đó. Nồng độ sử dụng  đối với từng chất kích thích sinh trưởng khác nhau, ví dụ 2,4D, thường sử dụng nồng độ 25-50ppm (nồng độ một phần triệu được viết tắt là ppm), NAA nồng độ 1500-4000ppm v.v… Cách pha như sau:

Đối với các chất cần pha ở nồng độ thấp thì về nguyên tắc là phải cân đong chính xác đồng thời phải tiến hành pha loãng dần như sau: Cân một khối lượng đủ để có chứa 1 gam chất hữu hiệu của chất định pha để pha trong một thể tích là 1 lít dung dịch này gọi là dung dịch mẹ và cứ 1ml dung dịch mẹ này có chứa 1 mg chất hữu hiệu của chất định pha. Cần chú ý là 1 số chất chỉ hòa tan trong những dung môi nhất định nên trước khi cho nước để có thể tích 1 lít người ta phải pha các chất đó tan đều trong nước không bị lắng tủa.

Tùy theo nồng độ định pha và số thể tích dung dịch của nồng độ đó ta yêu cầu mà rút từ dung dịch mẹ ra một lượng dung dịch tương ứng để pha trong thể tích để yêu cầu đó.

Ví dụ: Ta cần 100ml dung dịch 2.4D nồng độ 30ppm để sử dụng khi chiết cành ta chỉ cần lấy 3ml của dung dịch mẹ (có chứa trong 3ml là 3 mg chất hữu hiệu 2.4D) pha thêm 97ml nước ta sẽ được 100ml dung dịch có nồng độ 30ppm.

  • Bó bầu cho cành: sau khi khoanh vỏ có thể bó bầu cho cành ngay hoặc để làm bầu bao gồm đất và phân theo tỷ lệ 1 đất 1 phân hoặc 2 đất 1 phân. Đất nên chọn đất tốt, loại đất thịt nhẹ hoặc trung bình phân giải thật hoại mục, không có rác, cành cây tươi. Có thể dùng lông, tóc bỏ để trộn cùng với đất.

Khối lượng vật liệu bó bầu tùy theo độ lớn của cành chiết. Nếu cành chiết to thì bầu bó phải lớn và ngược lại. Thông thường khối lượng bầu của cành chiết có đường kính cành gốc là 1 – 1,5cm thì bầu bó khoảng 200 – 250g.

Vật liệu bao ngoài là giấy Polyetylen có kích thước đủ để bó bầu sao cho không bị hở bầu bó và giữ được nước. Việc dùng mo cau, chiết để bó thì phải thường xuyên tươi giữ ấm cho bầu chiết. Bầu sau khi bó xong phải đạt yêu cầu không bị xoay bầu (do buộc không chặt) kín bầu và có dạng trứng ngược.

  • Kiểm tra cành chiết: Sau khi bó bầu ½ -1 tháng phải thường xuyên kiểm tra bầu bó để phòng trừ kiến làm tổ, vỡ bầu hoặc xoay bầu do gió. Tiến hành bó lại nếu có các sự việc trên đối với bầu bó.
  • Cắt và gơ cành chiết: Thường sau khi bó bầu từ 2,5 đến 3 tháng là cành chiết đã ra rễ có thể cắt khỏi cây mẹ để đem gơ trồng. Cành khi có rễ mọc qua lớp polyetylen có thể nhìn thấy rễ mùa vàng rơm, phân nhánh là có thể cắt đem đi gơ được.

Sau khi cắt cành khỏi cây mẹ nên cắt bớt lá nhất là các lá no, dỡ bỏ lớp polyetylen và nhúng bầu bó qua nước sau đó đem gơ trên đất đã được chuẩn bị sẵn. Cần chú ý tưới giữ ẩm và che nắng cho cành gơ ở trong giai đoạn đầu cho đến khi cành có đốt lộc cành mới ra.

  1. Tách chồi, rễ

Là phương pháp nhân giống vô tính lâu đời được áp dụng phổ biến trong nghề trồng cây cảnh với mục đích tạo ra cây con này dễ làm, đơn giản song thời gian tạo cây con lâu và hệ số nhân giống rất thấp và có ảnh hưởng nhiều đến cây mẹ.

Các chồi ở gốc và rễ cây mẹ được tách ra khỏi cây mẹ sao cho vết thương nơi chỗ tách là ít nhất và cứ để nguyên như thế cho chồi gốc ra rễ hoặc rễ sinh ra chồi mới bưng cây con ra khỏi nơi cây mẹ sống để đem trồng. Việc tách như vậy chỉ đối với rễ và các chồi gốc của cây mẹ có đất phủ lên. Nếu không, cần phải vạn đất vào chốc các chồi đó trước khi tách chồi từ 1,5-2 tháng.

  1. Dâm cành

Rất nhiều cây cảnh có khả năng nhân giống bằng phương pháp châm cành là phương pháp sử dụng các hom cành của cây mẹ cắt ra đem dấm bó trên nền đất dâm đã chuẩn bị.

Nền dâm gơ thường sử dụng là đất cát song mịn hoặc đất cái của tầng đất. Cũng có thể sử dụng đất của lớp đất mặt song lớp đất này nhiều mùn, bã xác hữu cơ do đó cũng nhiều nấm, mầm bệnh gây chết cành. Nền dâm thường có độ dày 20-25cm.

Nơi dâm cành phải làm sao giữ hoặc giảm sự thoát hơi nước của cành dâm làm cành không bị héo, mất nước trước khi ra rễ vì vậy thường khi dâm phải tiến hành làm nhà hoặc vòm dâm được lợp và bao xung quanh bằng giấy Polyetylen để tránh mất hơi nước và giữ ẩm cho môi trường dâm.

Thời vụ dâm cành hữu hiệu nhất là khi thời tiết mát mẻ tức là vào đầu vụ xuân hoặc giữa và cuối thu sang mùa đông. Một số cây cảnh thích hợp dâm vào mùa đông, tiết đông chí theo âm lịch, như các loại tùng, trắc bách diệp v.v…

Cành non dâm có thể là cành non như trong khi dâm các loại hoa cảnh, cành bánh tẻ hoặc cành đã hóa gỗ đối với các cây cảnh.

Cách thức dâm cành tiến hành như sau:

  • Chuẩn bị nền dâm, nhà và vòm để dâm: Tùy theo lượng cành định dâm và chuẩn bị nền dâm, vòm dâm cho đủ theo ước tính cứ 1m2 nền dâm có thể dâm được từ 400 đến 600 cành dâm.
  • Cắt cành dâm và sử lý cành: cành dâm cắt dài thừ 10-12cm, không bị dập. Cắt bớt 1/3 lá và các lá ở gốc cành chỉ để lại cuống lá. Nhúng gốc cành vào dung dịch kích thích tạo rễ cho cành bằng các loại thuốc kích thích đã pha hoặc mua trên thị trường theo hướng dẫn đã có. Một số cây dễ ra rễ có thể không cần phải sử lý dung dịch kích thích ra rễ.
  • Cắm cành và chăm sóc cành dâm: Các cành dâm được cắm trên nền dâm hơi xiên 1 góc 45-60o có gốc cành ở sâu trong lớp nền từ 5-7cm với khoảng cách cách nhau 5cm. Có thể tiến hành dâm ở mật độ cao hơn cách nhau 3-5cm. Phun nước thường xuyên lên cành dâm bằng các dụng cụ phun sương có hạt nước nhỏ đảm bảo yêu cầu giữ nước thường xuyên trên bề mặt lá từ khi dâm cho đến khi cành ra được rễ.
  • Đưa cành dâm ra trồng ở luống hoặc chậu: khi cành đã nảy chồi, rễ đã ra nhiều và có phân nhành nhiều. Thông thường sau khi dâm 1,5-2,5 tháng là có thể đưa cành đem đi trồng.
  1. Ghép cây

Phương pháp ghép cây là phương pháp tiên tiến trong nhân giống vô tính cây cảnh, nó cho phép có thể nhân ra với một số lượng lớn cây con từ 1 cơ thể cây mẹ nhất là đối với các cây quí hiếm có số lượng rất ít.

Để nhân giống theo phương pháp này cần thiết phải có gốc ghép là các giống, loại cây cùng họ với cây mẹ. Các cây gốc ghép này chính là phần tạo thành bộ ủ cho cây ghép sau này nên yêu cầu gốc ghép ngoài cùng hộ thực vật thì chúng phải sinh trưởng khỏe, thích ứng tốt với điều kiện của nơi trồng. Cành hoặc mắt ghép là phần dùng để ghép trên gốc ghép sau này tạo thành phần tán trên mặt đất của cây ghép sau này, nó chính là cành, mắt của cây mẹ mà người trồng định nhân giống.

Cơ sở của phương pháp ghép cây là dựa vào sự tiếp hợp giữa 2 lớp tượng tầng và sự hoạt động của chúng để cho phần cành, mắt ghép và gốc ghép dính liền nhau tạo thành một cây hoàn chỉnh do vậy thời vụ ghép thường tiến hành vào vụ xuân hoặc vụ thu hàng năm khi mà thời tiết mát mẻ, sự hoạt động của tượng tầng tốt.

Có rất nhiều kiểu ghép: ghép cành và ghép mắt. Trong các kiểu ghép cũng có nhiều cách khác nhau như ghép cành có ghép nêm, ghép áp, ghép luồn vỏ v.v…, ghép mắt có ghép theo kiểu cửa sổ, chữ T, mắt nhỏ có gỗ v.v… Song các thao tác ghép đều qua các bước sau:

  • Gieo trồng cây gốc ghép: Cây gốc ghép có thể là các cây con nhân từ hạt hoặc các cành dâm được trồng ra luống với khoảng cách 15x20cm trên 1 luống 2 hàng. Tiến hành chăm sóc cho gốc ghép sau cho đến thời vụ ghép đường kính của thân cây cách mặt đất 15-20cm đạt được độ lớn 0,6-1,0cm. Cắt bỏ các cành nhánh ở gốc ghép từ mặt đất lên cao 20cm.
  • Chuẩn bị vệ sinh gốc ghép: Trước khi vào cụ ghép tiến hành vệ sinh vườn gốc ghép, tiến hành tưới nước, phân cho gốc ghép trước khi ghép 1/2 -1 tháng để gốc ghép sinh trưởng khỏe, ghép dễ sống.
  • Cắt và chuẩn bị cành, mắt ghép (gỗ ghép) của cây mẹ để tiến hành ghép. Các cành cắt từ cây mẹ này phải là các cành khỏe sung sức bánh tẻ không quá non hoặc già. Cắt bỏ lá chỉ chừa lại cuốn 1-2mm trên cành. Nếu vận chuyển đi xa nơi cắt phải giữ ẩm cho cành trong các vật liệu ẩm, bôi parafin ở 2 đầu cành cắt.

Thao tác ghép bao gồm việc mở miệng gốc ghép đã mở, buộc dây ghép để cành và mắt ghép dính chặt vào gôc ghép (Xem hình 9, 10)

Tháo bỏ dây buộc và cắt ngọn gốc ghép: Sauk hi ghép 10-15 ngày dỡ bỏ dây buộc, kiểm tra mắt, cành ghép sống hay chết. Nếu chết thì phải ghép lại vào vị trí đối diện với vị trí ghép trước. Sau đó 10-15 ngày thì cắt bỏ ngọn gốc ghép để cho cành, mắt ghép nẩy mầm tạo ra cây ghép.

Chăm sóc cây ghép: Sau khi đã cắt bỏ ngọn gốc ghép phải tiến hành làm cỏ và bón nhẹ cho cây cành để cành hay mắt nhanh mọc chồi mới. Công việc này nên tiến hành sớm ngay sau khi cắt ngọn gốc ghép. Sau khi cành được mắt ghép mọc thì tưới thúc để cho cành mới ra sinh trưởng tốt cũng như phòng trừ sau bệnh.

Trong quá trình chăm sóc phải chú ý tỉa bỏ các mầm chồi mọc từ gốc ghép không phải các các cành, mắt ghép để các chồi mọc từ cành hay mắt sinh trưởng nhanh hơn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *